Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang bình luận.... Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang bình luận.... Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2023

Thơ ca và âm nhạc...



Thơ ca và Âm nhạc 
(Câu chuyện bè bạn…)


   Lời ngỏ:
   Đây là bài viết hạn hẹp, nhưng cũng có chút gì đó tham vọng (cười)!
   Hạn hẹp? Vì trên blog người ta ngại viết dài. Sợ chuộng lý luận nên thiếu chi tiết! Vì thế, tôi đành dùng ngôn ngữ "cô đọng" mang theo chút ít gom góp vài điểm luận…
   Có chút gì đó là tham vọng? Bởi, hy vọng có thể trả lời những câu hỏi có ý tìm hiểu, thắc mắc của bạn bè gần xa về mối tương quan thơ ca và âm nhạc hiện đại. Và cũng cố gắng thử suy luận nhẹ nhàng, tránh đi sâu vào các lý thuyết rườm rà kiểu giáo trình bác học của nhiều tác giả...
   Hẵn nhiên, là cũng có ý muốn thân thiện gợi ý cho các bạn trẻ, nên rất chân tình tạm đưa ra những phương pháp luận, phân tích hé mở thử con đường thưởng thức hay sáng tác liên tưởng giữa thi ca và âm nhạc, trong một đề tài mà người ta thường đánh giá (cho rằng) là to lớn, sâu xa(!)
   Vì vậy, xin hãy xem đây chỉ là lời "bộc bạch" vài kinh nghiệm vô tư của riêng cá nhân, hơn là lĩnh vực chuyên môn và học thuật.

    1.  Mở đầu:
    Người ta thường đo chỉ số thông minh ở não bộ con người? Và, thật là may mắn…là không ai có thể hoàn thiện trí thông minh trên tất cả mọi lĩnh vực (vô nhân thập toàn)! Bởi, chỉ số thông minh cũng được phân loại khá nhiều: Chỉ số IQ  (suy luận), EQ (cảm xúc), SQ (tâm hồn), CQ (sáng tạo), Chỉ số MQ (đạo đức)…Nghĩa là chúng ta cũng có thể tự đi tìm định luật riêng cho chính mình...
   Trong đó, trí tuệ cảm xúc (EQ) thường được xem là nhân tố đem lại hạnh phúc và đức tính vượt qua gian truân cuộc đời! Khả năng cảm xúc là biết yêu thương và cảm thông! Và, dường như ai cũng có sẵn cảm xúc đó từ nguồn cội, miễn là đừng để cuộc sống tự kỷ nuôi dưỡng đố kỵ và hận thù...

   2. Nguyên lý:
   Với Tôi, giá trị của âm nhạc và thơ ca là sự thành công ngôn ngữ biểu cảm vừa sâu sắc tinh tế vừa giản lược, và hiện đại giao lưu không ranh giới vô giới hạn. Vừa là nghệ thuật giải trí thượng tầng văn minh của xã hội, vừa bình dân giản dị tô đẹp thêm cuộc sống tâm hồn người! Còn đối với nhân văn, nó cũng thể hiện tính văn hoá của một xã hội, của chính mình hoặc dẫn dắt đọc giả vào phiêu du cõi tha nhân…
   Tất nhiên, ở đây sẽ không nói về những điều người ta hay rêu rao ca ngợi ảo mộng thần tượng: Đỉnh cao của tư duy, văn hoá nhân sinh, hoặc tài năng thiên bẩm của một tác giả nào đó. Mà nơi này, tôi chỉ muốn xem nó chỉ là môn trình bày suy nghĩ, cảm nhận riêng về cách bước đi của một môn nghệ thuật rất phổ thông...

   Chưa có một trường lớp nào dạy cho bạn trở thành nhạc sĩ hay thi sĩ…Mà chỉ có những nhạc viện, trại sáng tác thực tập mở kinh nghiệm, ôn qui tắc cho chúng ta về nhạc lý và kỹ thuật nhạc cụ hay các luật thi thơ mà chúng ta đã học từ thuở còn cấp 2 phổ thông. Nhưng, hãy nhớ rằng: Công thức học ở trường lớp (thầy cô) chỉ là lời giới thiệu, nó chừng mực mô phạm và dừng lại ở đó!
   Có lẽ vậy, nên chúng ta không ngạc nhiên khi nhiều thạc sĩ, tiến sĩ văn chương chưa có tác phẩm nào đăng đàn tác giả, hoặc lưu danh tên tuổi…Bởi, nghệ thuật tiềm ẩn trong sở thích, nhận thức (năng khiếu) trong sự thông hiểu, sáng tạo của mỗi người. Và, tài năng nghệ thuật lại thường xuất hiện từ khi còn rất trẻ, khi mà hoài bảo vào đời vẫn còn tràn đầy cảm xúc và mơ ước…
   Tuy vậy, chúng ta phải có nền tảng, bạn cần phải học! Vì hình như mọi thứ liên quan đến cuộc sống đều có quy luật riêng của nó. Chúng ta cần học những nguyên lý để không lẫn quẫn và để đi được nhanh hơn, ít nhất là về mặt qui ước trình bày, trao đổi giao lưu học thuật...
   Điều chúng ta cần suy nghĩ? Là (tại sao?) những người không xuất thân từ trường lớp, lại luôn thành công về thể hiện tài năng văn chương, âm nhạc, thơ ca (phần lớn)? Có lẽ, là chí tự học…Họ học từ hiện thực và suy luận. Mà khi học bằng suy luận, người ta trở nên bền bỉ (nhuần nhuyễn)) gắn kết tác phẩm một cách hồn nhiên. Họ đã tự mình xây dựng tiểu thuyết dựa trên định luật, mà đôi khi chỉ bằng ngôn ngữ đời thường...
  Những người như thế! Họ thường vượt qua ngưỡng cửa thời gian trong chốc lát và bỏ qua những rườm rà, cầu kỳ, lý luận sách vở…để tự do thong dong phiêu lưu đến mục đích cuối cùng, nơi  chỉ có không gian thênh thang rong chơi nghệ thuật.

   3. Qui tắc và suy luận:
   Thật ra, điều đó không lấy gì làm lạ? Khi con người đã tìm ra hàng triệu âm thanh chỉ gói gọn trong Qui luật chu kỳ lập lại 7 nốt nhạc chính và 5 nốt nhạc phụ (khoảng cách cung). Hay tìm ra 3 hợp âm (cộng hưởng)chính để suy luận 3 x 7= 21 hợp âm cơ bản. và khi soạn thảo một bản nhạc đơn giản, chỉ cần 3 hợp âm cơ bản theo qui tắc qui ước lặp lại trên 5 ngón tay(1,4 và 5). Trong khi đó nếu ngồi ở nhà trường hay học bằng sách vở "thuộc lòng" do quy định thời gian, từng tiết bài để nhớ! Đôi khi bạn mất đi mấy năm mà vẫn cứ bị quên. Nghĩa là người ta vẫn hơn chúng ta bằng cách học suy luận.
  Thông thường thói quen, người ta hay yêu cầu học sinh học thuộc lòng bảng cửu chương. Nhưng nếu muốn dạy thêm cách suy luận? Bạn hãy chỉ cách cho đứa trẻ  tìm ra bảng cửu chương bằng các phép "cộng dồn" những con số giống nhau (cấp số cộng) trước khi học thuộc lòng. Đứa bé có chậm, thì 2h sau nó cũng hoàn thiện được 8 bản cửu chương cơ bản! Thì trong số đó, sẽ có đứa "tò mò" suy luận được ngay phép chia, hoặc xa hơn là đã hình thành tư duy suy luận bình phươngcăn thức...
   Cũng theo phương pháp luận đó khi người ta học đàn guita. Chỉ cần biết 7 nốt đầu tiên trên cần đàn, là bạn có thể biết khoảng cách cung để suy luận hết toàn bộ vị trí mà không cần phải học ghi nhớ, và còn lại là thói quen (quán tính) sẽ tự động giúp bạn! Vậy, học chơi đàn trong 7 ngày là lời nói không hoa mỹ và cách điệu chút nào? Hoặc, khi nhìn một dãy trên bàn phím Piano, Organ…bạn nên tự qui uớc vị trí, chỉ nên nhìn thấy 2 (cụm) nốt “trắng” và “đen”, thì chắc chắn ở quãng nào, bạn cũng nhấn đúng phím như bạn muốn.
   Thơ cũng vậy…chỉ có 2 thanh âm “bằng” và “trắc”và niêm luật câu cú thường gói gọn trong 4 câu thơ. Nếu bạn đem luật mỗi loại thơ ra để so sánh thì sẽ nhận ra Qui luật chung “trắc” và “bằng”(âm luật)bao giờ cũng cách nhau 1 chữ tạo nên thanh âm khác nhau để phân nhịp trong câu. Và đồng âm khác câu (niêm luật) tạo nên nhạc điệu. Đó là điều cơ bản âm nhạc trong thơ! Chính vì vậy, mà chúng ta đã sáng tạo ra nhiều loại thơ thuần Việt.
   Trên thực tế, chúng ta học luật thơ ca hay quy luật âm nhạc có thể sảy ra...chỉ cần một buổi hoặc vài ngày thảnh thơi suy luận nào đó! Phần còn lại thời gian, là để chúng ta làm quen cách thưởng thức hay sáng tác.
  
    4. Mở rộng và lý giải:
   Luật thơ, tuy  đơn giản hơn là các nốt âm nhạc vì chỉ có 2 thanh âm “bằng” và “trắc”mà người ta hay gọi là âm luậtniêm luật tạo nên sắc thái nhạc điệu thơ. Nhưng, cái gì càng giản đơn…luôn khó hơn về mặt diễn cảm nghệ thuật. Nghĩa là cần năng lực: Sử dụng ngôn ngữ, cách điệu hình tượng, nghĩa từ sao cho thành tác phẩm thi ca. Nó đòi hỏi nhiều về giá trị nội dung phải mạch lạc, sâu sắc, và bố cục phải rõ ràng thì người đọc hay xướng(ngâm)mới liên kết trình bày, người nghe mới thưởng thức được trọn vẹn. Và, đương nhiên khi đến với thơ người ta thường cần óc tưởng tượng, suy tư, chiêm nghiệm để cảm nhận sâu sắc hơn của tứ thơ.

   "Cái gì cũng có qui luật và đều có liên quan đến toán học..." (Galilei)
  Trong thơ ca có âm luật, niêm luật và thi pháp, trong âm nhạc có cung nhạc, hợp âmtiết điệu Vì vậy, suy ra thơ ca và âm nhạc vẫn có mối tương đồng và mục đích giống nhau, sự khác chăng là một bên dùng bằng ngôn ngữ và bên kia dùng bằng âm thanh.
   Vì là Nghệ thuật nên cũng luôn cần sáng tạo. Nhưng mọi cách sáng tạo nào cũng phải dựa vào qui luật. Vì qui luật không phải do con người tuỳ tiện đặt ra mà dựa theo định luật cơ bản, điều vốn có của tự nhiên của cảm xúc, nhất là thơ ca và âm nhạc!
   Xét về mặt tiến hoá loài người, thì âm nhạc có trước thơ ca! Vì âm thanh có trước khi ngôn ngữ loài người ra đời. Nhưng, nếu xét về mặt cấu trúc, tìm ra qui tắc đưa vào nghệ thuật, thì hình như thơ ca đã đi trước âm nhạc một khoảng cách tương đối dài(hơn 1000 năm).

  Theo lịch sử ghi nhận, trước đó thơ cổ phong chưa có luật thi thơ. Cho đến đời nhà Đường (618-907)trước công nguyên mới có luật thơ: Thất ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt rất nghiêm túc và chuẩn mực. Và khi sang nước ta được Hàn Thuyên(?) chuyển âm (còn gọi là Hàn luật)cách đây khoảng 800 năm thời Lý đến thời Trần (thế kỷ 11) dựa theo như nguyên tắc luật Đường thi: Vần, Đối, Niêm, Luật …Trong khi nền tân nhạc(qui luật âm nhạc) ca khúc mới được tìm hiểu, du nhập được khoảng 70 năm nay.
  Cái khó trong Đường thi, là trong 7 chữ (thất ngôn), 8 câu (bát cú) lại buộc phải đầy đủ và phân biêt: Mở đề, thực(trạng), luận kết, tất cả phải có bố cục rõ ràng, chặt chẽ…Đối(câu 3 và 4; 5 và 6) ý tưởng phải cân nhau, đối chữ (tức đối thanh)…nghĩa là “bằng” phải đối “trắc” và ngược lại trắc phải đối bằng. Trong ý nghĩa này còn có đối loại của chữ… là phải đặt hai chữ cùng một tự loại để đối với nhau (danh từ đối với danh từ và động từ với động từ…v.v.).
 
    Trong ngôn ngữ Việt của chúng ta có tám (8) thanh âm và được chia ra sáu (6) thanh trắc và hai thanh bằng. Nhưng, nếu đúng âm luật thì thanh “trắc”: Dấu hỏi, dấu ngã, dấu sắc, dấu nặng vẫn khác “thanh âm”nên có qui định khoảng cách nhất định (trừ từ luyến, láy…). Thanh “bằng” cũng vậy: Dấu huyền và không dấu, cũng không được lặp lại gây cảm giác đồng thanh âm, hoặc trong câu nên tránh vần chữ thứ 4 và chữ cuối. Nghĩa là tránh cả đồng âm, đồng nghĩa trong một bài thơ thì mới đúng yêu cầu hoàn thiện. Trong âm nhạc viết cho ca khúc tiếng Việt cũng không thể một nốt nhạc ở vị trí nào đó lại sử dụng chung cho các dấu cùng thanh (Dấu): Ngã, nặng, sắc…được.
   Những điều này cho ta thấy sự chuẩn mực (hay gò bó) trong qui tắc Đường luật chặt chẽ thế nào. Và cũng chính vì thế ít có ai hoàn thiện về mọi mặt một bài thơ hoàn thiện “luật đường thi” kể cả các nhà thơ lớn, tên tuổi...
 
   Mãi đến sau này, văn hoá phương tây xâm nhập, những vần luật và niêm luật của Nho gia trong thơ ca đã chuyển sang một quan niệm mới và hình thành một phong trào thơ mới (khoảng năm 1930) vì cho rằng Đường luật quá hẹp hòi cho ý tưởng và cảm xúc tự nhiên cho trái tim hồn thơ con người(?) Như thế, là dòng thơ mới ra đời để được cảm nhận từ đại chúng và thanh thoát hơn. Có lẽ nhờ vậy mà luật thơ của xứ mình thay đổi, sáng tạo để phát triển. Các loại thơ mới bỗng đa dạng, đã thể hiện được những âu lo, trăn trở, muộn phiền, rạo rực, vội vã…
   Tuy dòng thơ mới đã thắng thế và phát triển hơn thơ cũ rất nhiều! Nhưng không có nghĩa là khác nhau? Mà dựa đều trên qui luật đã định hình không hề thay đổi của thanh luật(âm lụât) những điểm nhấn tạo ra âm nhạc nhịp nhàng của dòng thơ. Còn hiệp vận hay cách vận cũng chỉ là nhạc điệu thay đổi đúng niêm luât…
   Ta sẽ thấy sự bất biến (qui luật) khi thanh “bằng” “trắc”luôn cần một khoảng cách (cách nhau 1 chữ) mới tạo nên giọng thơ nhịp nhạc! Vì, nếu không như thế? Nó chỉ là lối văn xuôi tĩnh lặng. Chẳng qua nó có một khoảng cách tự do cho chúng ta ngơi nghĩ, diễn cảm. Và nhất là khỏi mất công và khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo.
   Ngoài ra, người ta còn sáng tạo khi chọn khởi động thanh “trắc” “bằng” một số loại thơ vào chữ thứ 3 của câu thay vì chữ thứ 2 (như song thất lục bát, thơ 7, 8 chữ) Riêng, thơ Lục bát thì gần hoàn thiện với âm giọng ca dao tiếng Việt hơn khi sử dụng thanh “bằng”nhịp nhàng vào vần đúng chu kỳ (chữ thứ 6) của mỗi câu.
   Trong nguyên lý sáng tạo? Tôi suy nghĩ rằng: Những cách nói “thơ tự do”? Không có nghĩa là tuỳ tiện thay đổi qui luật “thanh âm”…Bởi ngôn ngữ, âm vực, giọng của người Việt nhiều thanh âm, thanh sắc. Có phải nhờ đó mà thơ ca của người Việt có điều kiện, thuận lợi hơn (hoặc hạn chế) về mặt soạn thảo ca từ âm nhạc? 
 
  Âm luật (bằng trắc) trong ca khúc âm nhạc cũng vậy! Nếu nhạc sĩ nào sáng tác "phá giọng"(âm ngữ (dấu) nhả từ chuẩn mực của ca sĩ, thì nhạc sĩ đó…có lẽ không sáng tác riêng cho người Vịêt hát (cười)! Vì muốn thưởng thức bài hát chúng ta phải thuộc (nghe) lời? Nếu như thế (không rõ lời) thì đã tách lệch nhạc và lời, chia ly cảm xúc…
   Đó là chúng ta đang bàn về âm nhạc kèm lời (ca khúc). Nói như thế không có nghĩa là chúng ta phủ nhận âm nhạc không phải là cầu nối tâm hồn người, mà chỉ mặc nhiên công nhận hoặc phủ nhận lời và nốt nhạc trong ca khúc ấy, có giá trị hợp chuẩn hay không. Nếu không? Tốt nhất là nghe nhạc không lời.
   Vì ca khúc chính là cuộc hôn phối giữa thơ ca và âm nhạc. Một cuộc hôn nhân không đồng điệu, lạc giọng thanh âm sẽ lịm chết từ khi mới bắt đầu. Nghĩa là bài hát đó gây dị ứng người nghe, khó hiểu, khó nhớ…dễ đi vão quên lãng.
  Cũng vậy, một bài thơ…nếu không có điểm nhấn, rời rạc, đồng thanh hoặc hoặc lạc niêm, lạc vận, đọc không suông sẻ thì khó nắm bắt nội dung, hoà điệu thơ ca. Tuy nhiên, thơ khác với âm nhạc một điểm vô cùng quan trọng, chính là ngôn ngữ diễn cảm và ý tứ sâu sắc, dạt dào sống động. Nhờ những điểm đó mới tạo nên nên giá trị của một tác phẩm, và người ta sẽ dễ dàng bỏ qua những lỗi lầm nhỏ (luật lệ). Vì, tâm tư người ta đi tìm kiếm hồn thơ chứ không phải chỉ trò chơi dùng chữ lắp ghép, xảo ngữ hô biến thành thơ thẩn...
 
   5. Kết luận:
  Một người viết phê bình văn học…không nghĩa là người ta có khả năng viết được tác phẩm. Và một người biết thưởng thức nhạc không nhất thiết phải biết qui tắc âm nhạc.
   Nếu không hội đủ kiến thức chung thì khó mà nhận định sự hoàn thiện một tác phẩm!
   Nhưng, cũng thật may và tuyệt vời…là nghệ thuật dành cho tất cả mọi người, nó không hề có ý định, tiêu chí, ranh giới  phân biệt.

  P/s: (luận điểm cá nhân)   
  Về cảm nhận mỗi người trong thơ ca và âm nhạc…?
  Phần lớn, mọi cá nhân đều phụ thuộc cảm xúc với nhiều lý do: Ý thích, năng lực, kiến thức và thói quen, kỷ niệm…Nhưng, những ca khúc và bài thơ giá trị sẽ đáp ứng được cả hai yếu tố: Bài thơ hay phải có giọng thi ca (âm nhạc), Ca khúc thì phải có ngôn ngữ thi thơ.(sở thích lại là vấn đề khác).
   Vì vậy, không có thước đo chung cho mỗi loại hình nghệ thuật hay định mốc thời gian.Và, khi đã nói đến nghệ thuật thì mọi thứ đều có thể “chuyển thể” phù hợp với ngôn ngữ riêng cho mỗi dân tộc, hoặc loại hình nghệ thuật đó…
   Chúng ta dễ xác nhận một điều cơ bản: Thơ của mỗi dân tộc chứa đựng theo cái hồn “khẩu dụ”của dân tộc đó! Vì, thơ có liên quan đến phần chủ đạo thanh âm, nhạc tự ngôn ngữ. Như thế, cũng có nghĩa: Sự dịch thuật, chuyển thể…khó mà đáp ứng trọn vẹn ý tứ hồn thơ, phần lớn còn lại chỉ là cảm thụ nghĩa và lý lẽ...
  Người Việt thường chỉ cảm xúc thi ca Việt hơn là dòng thơ Châu Âu…Và ngay cả thơ Trung Quốc dù gần gũi ý luật cũng khó mà đồng ý nghĩa thanh âm ngôn ngữ diễn cảm.
  Âm nhạc không hề có ranh giới, luật thơ cũng vậy! Nhưng, nhạc điệu và lời hát thì lại thể hiện rất rõ sở thích, tâm tình, thể hiện nhân văn …và ngôn ngữ thơ ca lại quyết định sự biểu cảm giá trị nghệ thuật, tính cách văn hoá. Vì vậy, nếu ta pha trộn ngôn ngữ thì cũng nên suy nghĩ, tự kiểm tra lại giá trị tự nhiên, sáng tác chân thật của tác phẩm. Sự phóng tác cũng thường ví von, lặp lại ý niệm cũ…(trừ mục đích cá nhân)
   Nguyên nhân, là chúng ta đã tiếp cận nhiều nền văn hoá Đông, Tây, Kim, Cổ (đồng nghĩa với nô dịch)một thời gian dài của lịch sử: Từ “Điển tích”Trung Quốc, “văn hoá” Pháp, cả kiểu cách Nga và lối sống Mỹ…nên không tránh được tư tưởng cố tình hay vô ý tách rời hoặc dị biệt.
   Nhưng hy vọng chúng ta vẫn hiểu rằng: Ngôn ngữ Việt chưa bao giờ thay đổi thanh sắc. Với mọi thứ đều có thể chuyển thành tiếng Việt hiện đại thuần tính trong thơ ca và âm nhạc, nếu bạn muốn có tác phẩm của riêng mình, của dân tộc bạn...

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2022

Ngày quốc tế phụ nữ...

“Ngày lễ” phụ nữ…


   "Nếu phụ nữ là người lãnh đạo thế giới, hẵn chúng ta sẽ không có chiến tranh, cùng lắm chỉ có những cuộc thương lượng căng thẳng diễn ra độ mỗi tháng một lần...". Đó là câu nói hài hước, ý nhị của diễn viên hài Mỹ Robin Williams...
   Ngẫm nghĩ, cũng có vẻ đúng(cười)Bởi, thấy mấy ông mặt to, mắt cú vọ thường nóng nảy bảo thủ, âm mưu quyền lực gia trưởng. Còn mấy nàng (bả) chỉ "chảnh chọe" gây lộn xộn khi thích độc quyền gì đó thôi...

   Thực tế, thế giới hiện nay tư tưởng văn mình xã hội bình đẳng giới không nhiều! Có thể, người ta chưa vượt qua thói quen tâm lý, văn hóa "hoang dã" còn tồn tại ? Vì vậy,  bình quyền nam nữ vẫn là điều không dễ thực hiện(?) Khi mà hiện tượng bạo lực chiến tranh vẫn còn tiếp diễn (bất kỳ lý do gì) thì trong "máu thống trị" ỷ lại của đàn ông khó mà kiểm soát, nhất là với những hệ thống chính trị cường quyền, nơi tạo cơ hội cho những kẻ tự kỷ chính trị mắc bệnh vĩ cuồng...

   Theo lịch sử thế giới ghi nhận ngày 8/3/1908…ở Mỹ đã diễn ra cuộc xuống đường đầu tiên, đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ (quyền bầu cử, việc làm và tiền lương). Và, đó là ngày đánh dấu kỷ niệm đáng ghi nhớ về bình đẳng giới trong pháp luật, cùng những giá trị đạo đức cần bảo vệ và xã hội phải quan tâm đặc biệt đến phụ nữ và trẻ em gái…

   Nhưng, nhiều nơi vẫn hay (còn) gọi ngày mồng tám tháng ba (8/3) là “ngày lễ” phụ nữ, hoặc nhiều tờ báo dùng “vinh danh” phụ nữ? Xét về mặt sử dụng ý nghĩa “lễ phụ nữ” hay “vinh danh phụ nữ” đã thấy có cái gì đó ngộ nhận ban phát, phô trương so với giá trị tinh thần, ý nghĩa chính về cuộc cách mạng nhân văn, tinh thần xã hội bình đẳng giới …

   Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi người phụ nữ phương tây không thích tặng hoa, quà trong ngày này (8/3)! Vì họ cảm thấy “hình thức” sự thể hiện đó tỏ ra thêm “bất bình đẳng” so với mục đích chính của lễ kỹ niệm. Họ muốn quyền bình đẳng thì không nhờ vả, vay mượn cũng như "Muốn có hòa bình thì phải chống chiến tranh"(?)

   Có thể, họ quan niệm (hay nhận thức): Văn hóa, lễ nghi chỉ là một phần thể hiện tư tưởng giáo điều, hành động an ủi tượng trưng…nó thường ngược lại với hiện thực, vì ảo tưởng sẽ không làm con người văn minh hơn. Sự thật, tặng hoa và quà nên tránh những lý do lễ hội…chỉ khi thể hiện ngụ ý đặc biệt ý nghĩa riêng giữa cá nhân với nhau (ngõ lòng ái mộ, thay lời xin lỗi)!

    Phụ nữ cần có học thức xã hội, vì họ luôn bị yếu thế hơn trong cuộc sống sinh tồn và mưu cầu hạnh phúc riêng tư (!) Hành động văn hóa khác nhau sẽ thay đổi giá trị khác nhau? Ngày 8/3 nên là ngày mà các hệ thống quản lý luật pháp xã hội,  mỗi cá nhân chúng ta cần kiểm tra, thiết lập, giáo dục thái độ bảo vệ  phụ nữ. Lady first…không chỉ đơn giản là kiểu cách lịch sự, ưu tiên dành cho phái nữ mà còn là hệ ý thức đánh giá đức tính cao thượng hay hẹp hòi của đàn ông qua cách cư xử với “phái yếu”hơn mình...

   Sự thật, tính cách cao thượng,  đạo đức con người và nền tảng văn minh thường được đánh giá qua cách cư xử tri thức: Bình đẳng giới trong gia đình, ngoài xã hội và tôn trọng tình cảm dân tộc, tôn giáo, tập quán vùng miền, chủ quyền quốc gia khác...

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Chiến thuyết trận...

Chiến thuyết trận?
(trò chơi chiến tranh...)



   Lúc bé các cu cậu đã thích trò chơi chiến tranh (uýnh lộn), còn các bé gái dùng bạo lực chỉ khi nào có liên quan đến chuyện dành dựt...búp bê (cười)!

   Nhưng, trò chơi chiến tranh của trẻ em thường kết thúc hòa bình trong dĩ vãng, kỷ niệm thời  bé con! Còn chiến tranh của người lớn luôn chứa đầy thuyết âm mưu cùng sự bạo tàn và để lại lịch sử nhiều ký ức tăm tối…ý nghĩa (nếu có) còn xót lại duy nhất là chủ nghĩa anh hùng(?)

    Chiến tranh là một phần của lịch sử thế giới! Cuộc chiến lớn đã có từ khoảng năm 1475 trước Công Nguyên, (trận Megiddo: Quân Ai Cập đánh nhau với liên quân Canaan-Kadesh-Megiddo- Mitanni). Nghĩa là nhân loại đã trãi qua 3500 năm rồi vẫn luôn chơi chiến tranh và sẽ không bao giờ kết thúc, trừ khi mệt mỏi tạm thời hòa hoãn, ngơi nghĩ…

   Các học thuyết chiến tranh thường được đưa ra nhiều nguyên nhân với những lý do tưởng chừng rất đơn giản về bản năng, tâm lý, hoàn cảnh...nhưng, không hề dễ hiểu đối với đạo đức học để thông suốt nhận ra thiện và ác:
   - Chiến tranh tôn giáo (chủ nghĩa tôn giáo)
   - Xâm lược, chiếm đoạt kinh tế (chủ nghĩa thống trị, chủng tộc)
   - Xung đột giai cấp, hệ ý thức chính trị (chủ nghĩa Mark)
   - Xu hướng quân sự hóa chính trị, kinh tế (chủ nghĩa đế quốc, dân tộc)

   Nhìn lại lịch sử: Sau khi kết thúc đệ nhị thế chiến (1945) thế giới đã chia làm hai thái cực phe phái (hệ ý thức chính trị) thường gọi nôm na là chủ nghĩa tư bảncộng sản…Nhưng, đến năm 1975 đã dần hình thành chiến thuyết trận thế “chân vạc”: Mỹ-Nga-Trung…như một thế trận phân tranh giới hạn để tránh bị xụp đổ, diệt vong. Có thể họ nhận thức rằng: Chẳng có quyền lực, đế chế độc tôn nào được tồn tại lâu dài (!)

   Rất dễ nhận ra công cuộc cải cách kinh tế của Trung quốc (1978) được thành công có sự bằng lòng “đi đêm” của Mỹ. Và, đến năm 1991 nước Nga cũng đành chấp nhận thay đổi thể chế (Liên Xô xụp đổ) để được phát triển và tồn tại trên thế giới như một đại cường quốc…

   Trong ba cường quốc thì: Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh và dân trí (hợp chủng quốc) phát triển văn minh, Nga có diện tích rộng lớn và có địa thế lịch sử truyền thống đấu tranh lâu dài, Trung quốc lại có được một nền văn hóa đặc biệt bền lâu với dân số đông đảo! Còn lại những nước nhỏ (nhược tiểu) tùy theo địa chính trị, nhu cầu quân sự mà trở thành (hoặc chủ động) một phần quân cờ vận mệnh trên bàn cờ lớn…

    Ngày nay, các nước lớn hiểu rằng sức mạnh quân sự là bí mật để chiến thắng một cuộc chiến bất đắc dĩ, hoặc chỉ dùng hạn chế kiêu binh vượt "lằn ranh đỏ", chứ không có hiệu quả cho đường lối (tâm lý) chính trị…chỉ những nước biết rõ mình yếu thế, mới dùng luận điệu chiến tranh tâm lý khoe khoang (hù dọa) sức mạnh, thiết bị quân sự (?)

    Ngoài ra, với sự phát triển rộng rãi của vũ khí hạt nhân…kẻ thù nguy hiểm của thế giới là chủ nghĩa khủng bố cực đoan, hay vị trí thế lực của một gã độc tài (tâm thần) nào đó đang cố tình tồn tại ngoài vòng kiểm soát của liên hiệp quốc. Mặc dù, Liên Hiệp Quốc hiện nay...mới cũng chỉ là bàn đàm phán "tam cường, ngũ bá" về luật lệ quốc tế, một sự giới hạn “mềm” nào đó có tính đồng thuận, hoặc hiệp ước phân chia kiểm soát lợi ích (?)

   “Diễn biến trật tự thế giới đang đến hồi gay cấn đầy cạm bẫy? Nhưng, so với Nga, Trung…người Mỹ hòa nhập văn hóa thế giới nhanh hơn, họ linh động biến chuyển điều chỉnh chiến lược chính trị, âm thầm phát triển khoa học kỹ thuật và đã nghệ thuật hơn trong văn hóa ngoại giao. Vì vậy, họ luôn biết cách chờ đợi sự háo thắng của kẻ khác hơn là cố ý tạo ra một thế chiến thứ ba…” !


Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

Dịch thơ...

Dịch thơ…
 (Mạn đàm…)

  Có người hỏi tôi về “quan điểm”? So sánh, phân tích cách dịch bài thơ Nam quốc sơn hà đã thay đổi trong sách giáo khoa mới…
   Ở đây, Tôi (@thenhan) chỉ là kẻ tò mò “vác bút giang hồ” (cười) đi tìm tình yêu nghệ thuật văn chương, thỉnh thoảng mạn đàm rêu rao chút xíu thơ ca (trong blog) cho đời vui…chứ không bàn về tư tưởng, học thuyết (sự chủ quan)!
   Đối với công tác giáo dục cộng đồng? Tôi nghĩ không nên sử dụng quan điểm. Vì giáo dục thuộc tính nhân văn và giá trị lợi ích thuộc về năng lực phát triển cho lẽ phải, hài hòa cho tất cả mọi người…
  Ngày nay, với công nghệ vi tính lập trình sẵn…dịch ra ý các ngôn ngữ thông dụng là một điều cũng đơn giản! Chỉ khó là khi chuyển hóa ngôn từ, ngữ điệu là điều không phải ai cũng làm được trọn vẹn. Vì văn hóa ngôn ngữ (phong tục, tập quán) của mỗi dân tộc, vùng miền đôi khi mang hàm ý khác nhau. Đó là chưa nói khi dịch công văn, thơ, nhạc, tiểu thuyết…cần cho đúng ý niệm, quy cách, tinh thần, giai điệu ngôn ngữ…
   Nếu nguyên bản dịch (phiên âm) từ Hán-Nôm là:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
       Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
     Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
   Thì hầu hết mọi người cũng đoán (dịch) được ý tứ bài thơ này…vì trong đó có một phần ước lệ, thói quen ngôn từ Việt! Nhưng, để tạo lại một bài thơ thuần ngữ (Việt) hôm nay vào dòng văn học, có tính nhân văn là điều không dễ tùy tiện…
   Đã từ lâu người ta đã quen thuộc và gần như đi vào nhận thức qua nhiều thế hệ, có giá trị giáo khoa thuần túy với bài dịch của Trần Trọng Kim (1883 – 1953 là một học giả danh tiếng, sử gia, nhà sư phạm…) vì nó cũng theo quy tắc thất ngôn tứ tuyệt, hoặc trong bát cú (thơ Đường luật):
  Sông núi nước Nam vua Nam
       Rành rành định phận tại sách trời
   Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời
    Hiện nay, trong sách giáo khoa lớp 7 (tập 1) thay đổi một bản dịch khác (dù cùng một ý nghĩa) có ghi đồng tác giả là: Lê Thước (1891-1975. Nhà giáo) và Nam Trân (1907-1967. Nhà thơ):

    Sông núi nước Nam vua Nam
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
   Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
       Chúng mày nhất định phải tan vỡ

    Điều tôi lo ngại, thắc mắc? Là bài thơ (dịch) đó có đúng theo nguyên tác thừa nhận và được sự đồng ý thay thế bản dịch Trần Trọng Kim trong khoa giáo…của 2 tác giả Lê Thước và Nam Trân không? (vì họ mất từ lâu).

   Nhưng, về mặt nội dung thì chẳng có gì khác nhau. Tất cả đều dựa sát ý tứ và nghĩa từ mà dịch. Vì với Hán-Nôm…người bình thường cũng khái quát được ý nghĩa và khi cần họ vẫn tham khảo (internet) để tự dịch được, không cần phải là học hàm, học vị…
   Chỉ có điều quan trọng trong dịch thơ…là người dịch phải có chuyên môn, kiến thức (qui tắc, luật lệ) về thể loại thơ đó và nên phù hợp với thời điểm (lịch sử), văn hóa nhân gian, đối tượng văn học...chứ không đơn giản là chỉ cần đúng ý nghĩa mà được?  
   Sở dĩ, có băn khoăn, bàn cải? Bởi, người ta chưa hài lòng lắm với bản dịch mới thay thế (Lê Thước- Nam Trân) vì ít nhất là khó đọc bởi ngữ điệu vần “trắc” (thơ cải biên), không phù hợp thông thường với thơ ca Việt (cả thơ Đường- Trung Quốc) vốn xuôi vần “bằng”….
   Ngoài ra, nếu xét về ngôn từ định nghĩa hay khái niệm (ý tứ) thì rất có nhiều dấu hỏi được đặt ra cho một loại thơ mang tính văn bản hay đối đáp mà lại thiếu rõ ràng: Người ta khó chấp nhận sắc thái tu từ ví von“vằng vặc”(cường độ sáng của ánh trăng)…khi thay thế văn tự đã khẳng định tiệt nhiên! Còn phân biệt “Giặc dữ” là một khái niệm “lạ” với kẻ xâm phạm lãnh thổ quốc gia (không lẽ có loại “giặc hiền”?) Hoặc tính từ dùng ngôi thứ “chúng mày”…là hơi thô, thiếu nhã nhặn so với yêu cầu trang nhã văn học và định ngữ “nhất định tan vỡ” vẫn còn mơ hồ khi chưa rõ yếu tố hành động (đánh) quân sự (?).
    Giả sử…chỉ có một bản dịch duy nhất. Có lẽ chẳng ai ý kiến gì? Vì người ta vẫn hiểu được ngụ ý của bản dịch đó! Hoặc ít nhất là tôn trọng tập quán văn hóa (ngôn ngữ) quá khứ. Nhưng, khi có 2,3…bản dịch khác nhau, thì người bình thường (độc giả) cũng sẽ cảm nhận, so sánh được cái hay, cái dở của thơ ca, hoặc sẽ nhận ra tính hợp lý trong đạo ứng xử nhân văn…
   Và dù bài thơ có thay đổi cho phù hợp với xu thế lịch sử, thời đại thì cũng phải xứng đáng, có giá trị ngôn ngữ quốc thi, quốc thiều…
   Sự cải biên vụn vặt thường không phải là cách thức cải cách giáo dục thẩm mỹ thuần túy. Nếu sự thay đổi tạo ra băn khoăn về học thức, hoặc gây tranh cải cảm tính trong dư luận, thì cũng đã là điều chớ nên tự ý làm...

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

Ăn cắp văn chương...

Ăn cắp văn chương…
( Câu chuyện bạn bè…)


   Ăn cắp là một nhóm động từ của nhân gian nói về hành vi trộm cắp tài sản của người khác một cách lén lút! Nhưng, cũng một hành động bất chính đó: Khi quan chức ăn cắp thì gọi là tham nhũng…còn giới văn nghệ sĩ “ăn cắp tác giả” thì được gọi theo lối chơi ngữ nghĩa: Đạo thơ, đạo văn, đạo nhạc. Tóm lại (qui về một nhóm) bọn họ đều là một phường Đạo Chích*(cười).  

   Về mặt luật pháp (của chúng ta) thì các hành vi phạm tội: Trộm cắp, tham nhũng, xâm phạm sở hữu trí tuệ cũng đã có luật rồi! Nhưng, các khung hình phạt chủ yếu là dựa trên giá trị số lượng vật chất, hoặc chỉ mang tính chất phòng, chống? Trên phương diện tinh thần, danh dự…hành pháp khó mà nghiêm túc để xử lý triệt tiêu bớt các tác hại, ảnh hưởng đời sống văn hóa, tinh thần con người, nhân cách xã hội. Đôi khi, ta có cảm tưởng đang bị xuề xòa như là bệnh “ăn cắp vặt”…

   Nạn trộm cắp hoành hành chỉ có vài nguyên nhân. Thường, có nhiều lý do để lý giải: Hoàn cảnh thiếu thốn, thói quen lạm dụng, bản năng ích kỷ. Chuyện tham nhũng có thể ở đâu cũng có? Nhưng, chắc chắn là dễ lộng hành dưới thể chế độc quyền, thiếu minh bạch, dân chủ! Còn về trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật…chính những giải thưởng “thành tích”, bầu bán chức danh nghệ sĩ…khiến những kẻ bồi bút, tật nguyền nghệ thuật ngỡ là danh vọng. Chứng bệnh (hành vi, hiện tượng) ăn cắp thì nhiều nguyên nhân? Nhưng, dù xét theo nhu cầu nhân sinh hay mục đích chính trị xã hội thì cũng đều có nguy cơ độc đoán tạo ra não bộ léo lận như nhau: Gian tham, xấu tính…

   Trong một xã hội nghèo nàn ý tưởng, lề lối “thâm trầm” …thói ăn cắp “sở hữu trí tuệ” chỉ xem như là giá trị khiếm nhã, vụn vặt khi dại dột “đạo” văn thơ, âm nhạc! Họ lớ ngớ…không biết rằng: Văn chương hay âm nhạc không thể ăn cắp rồi “tân trang” lại mà biến nó thành sở hữu của mình được? Bởi, hình dáng nghệ thuật luôn ẩn chứa vốn liếng năng lực cá nhân bất biến! Và vì từ nơi nguyên thủy “Đứa con tinh thần”thường được thai nghén trong môi trường cá biệt của tư duy, nếu có giống nhau là ở chỗ suy tưởng chứ không thể rặp khuôn ở khía cạnh hình hài…

   Những nghệ sĩ có máu “cô độc” (thiếu sáng tạo) thích bắt bóng “thiên tài”, hội chứng đẳng cấp phù phiếm nên thường bị nô lệ ngôn ngữ, tương tư chủ nghĩa, hoang tưởng với các ngôn từ hóc búa, mánh lới…mà không hiểu rằng: Sự “cao siêu” về lời nói (từ ngữ) phô trương thói đỉnh cao thường gây ra biến thái tư tưởng, nhu nhược tinh thần, tâm hồn lạc điệu…

    Sở dĩ, có chuyện ăn cắp văn chương là có hội chứng bệnh ảo vọng trong một môi trường lạc hậu về giá trị thực, nơi mà “lề thói” trên đường đi vào học vấn còn nằm trong cách thức học vẹt, lười suy nghĩ.  Hiện nay, đời sống với thông tin, khoa học đã mở rộng kiến thức…con người hiện đại đã đủ nhận thức để rũ bỏ những loại kiểu cách văn chương thị phi, gán ghép ngữ nghĩa, hí ngôn những điều gây ngộ nhận…thì trộm cắp ý tưởng văn tự, giai điệu tâm tư là điều hết sức vụng dại!

    Ở đời (tâm lý), người ta sợ bọn cướp giật, đề phòng kẻ trộm cắp…nhưng, lại ghét nhất ăn cắp vặt. Vì “ăn cắp vặt” là loại gây phiền hà, thừa cơ chôm chỉa bất kỳ những cái gì của mọi người xung quanh có được…

   Sự khủng hoảng niềm tin? Không phải nơi thói thường tật xấu khuất lấp vốn có của loài người mưu sinh…mà vào những thứ rao giảng rình rang ngôn từ tối nghĩa, phong cấp học hàm học vị hình bóng, ca ngợi sùng bái vu vơ, dối trá danh vọng huyễn hoặc...



   * Đạo Chích (tên nhân vật hư cấu) là kẻ trộm cắp, giết người nổi tiếng thời Xuân Thu (Trung Quốc))...sự bắt chước vay mượn gián tiếp “điển tích”xa xôi, mù mờ nào đó thay cho định ngữ trực tiếp…

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Lấy chồng ngoại...

Lấy chồng ngoại…
(Thao thức…)


   Thường ở xứ chúng ta (VN) khi đến với nhau thành chồng vợ? Người ta hay nói đến “duyên số” như là ý niệm của định mệnh, số phận…dù đó là vì tình yêu hay hoàn cảnh!

   Điều đó, có thể hiểu là thuộc tính văn hóa truyền thống cũ ảnh hưởng (nho giáo, tử vi, bói toán) hay là do tư tưởng giới hạn bình đẳng giới, điều kiện hoàn cảnh mưu sinh, hoặc thiếu sự quan tâm về chính sách xã hội, luật pháp…Vì người ta thấy rõ: Sự thật, cuộc đời người phụ nữ Việt thường phụ thuộc vào kinh tế, hạnh phúc đời sống vào chồng con của mình nhiều hơn…  

   Chuyện lấy chồng ngoại trước đây: Thời thuộc Pháp, Mỹ (trước 1975) cũng không ít…dù dư luận cũng có chút phân biệt, nghi kỵ. Nhưng, có thể hiểu được trong điều kiện, môi trường xã hội văn hóa giao lưu rộng mở và phần nhiều đều hiểu nhau qua ngôn ngữ, cá tính, quan niệm tương đồng…

   Nhưng, chuyện lấy chồng ngoại (nước ngoài) những năm gần đây đã trở thành “phong trào”, một hiện tượng “hàng hóa nhân phẩm” gần như cá biệt của các cô dâu người Việt khi thông qua môi giới rao giá. Điều đó, hẵn nhiên có vận may rủi, gặp nhiều bi kịch vì đi ngược lại với nhu cầu, mộng ước bình thường về cơ bản tình yêu, hạnh phúc…khiến cho người trong nước và người bản địa bên kia đều có cái nhìn phân biệt, kỳ thị dù họ không nói ra...  

   Trên phương diện truyền thông? Người ta thường “mổ xẻ” nguyên nhân…rồi đưa ra mỗi cách nhận định riêng, theo quan niệm hoặc kinh nghiệm thực tế của cá nhân nào đó trong vài trường hợp…Và thường là chia ra hai kiểu đối đáp “giao lưu” hoặc phân tích: Gay gắt phê phán (vì trục lợi, mục đích kinh tế) hoặc rộng lượng thông cảm (quyền được hy vọng tìm kiếm tương lại)…

    Nhưng, đó chỉ là ngôn ngữ phục vụ văn hóa thông tin xã hội! Có một thực tế về hoàn cảnh đời sống, tâm lý xã hội dễ hiểu mà họ luôn tìm cách tránh né, hoặc là chỉ “buông thả” theo dòng thời sự mặt nổi một cách tế nhị…Còn dư luận minh triết thì rất rõ ràng và sâu xa hơn nhiều, liên quan đến hoàn cảnh, kiếp nhân sinh, thân phận “nữ nhi” bèo dạt mây trôi…

   Hình như, sự “chịu thương, chịu khó” của phụ nữ Việt…thường lệ thuộc văn hóa tư tưởng xã hội, nên đã tạo ra đức tính hy sinh không hề do dự khi muốn báo hiếu gia đình, bố mẹ? Và, sự báo hiếu (quá khứ) đôi khi cũng đem đến nghĩa bi thương, nó trở thành một gánh nặng tâm lý định mệnh...

   Sự mong muốn “đổi đời” của họ không chỉ ước mơ niềm tin vật chất để sống còn, mà cũng mong muốn tìm kiếm ở một môi trường nào đó để sống tốt hơn (Bình đẳng giới, luật pháp bảo trợ). Một trong 3 lý do trên, cũng đủ cho những người có hoàn cảnh bế tắc, cá tính mạnh…có đủ sức thuyết phục bước lên xe hoa (máy bay) phiêu lưu chân trời mới…Vì, lịch sử cũng đã từng chứng minh: Nhiều người dám liều hy sinh để đi tìm tự do tư tưởng, một lối thoát đời sống…thì cô dâu Việt cũng có thể “sang ngang” cầu may như thế!

   Cũng có người đổ thừa cho “dân trí thấp”, văn hóa thực dụng? Đây, là sự cố tình nhầm lẫn của hệ thống suy luận đơn điệu, cực đoan lũng đoạn (!) Bạn đã có mấy lần sử dụng trí óc thay cho nhu cầu thực tế và có mấy khi lý thuyết trơn tru lại tạo dựng được hình hài cuộc sống vốn phức tạp, giới hạn?

    Trong quá trình phát triển xã hội, dù thể chế nào…thì luật pháp phải đáp ứng thích hợp với xã hội, nhu cầu cuộc sống chung của con người. Nghĩa là dù biện luận kiểu gì…thì cũng phải thừa nhận người dân chính là cơ sở để tạo ra luật pháp nghiêm túc bởi các giá trị tích cực của nó! Nhất là thời đại ngày nay công nghệ thông tin đã toàn cầu hóa, thì khả năng “dân trí” phần nhiều đều phổ thông kiến thức, nhận ra lý lẽ …đương nhiên, là có tầm nhìn thực tế, mở rộng hơn cả những “quan lại” vốn luôn bận rộn đối ngoại, hoặc lẫn quẫn trong phòng với bề bộn hồ sơ đối nội…

   Phải chăng? Phụ nữ bao giờ cũng muốn lấy được người chồng hơn mình (nhất là trí thức sống). Và hiện thực đó…dù qui kết về bản năng hay sự tính toán cũng đều là lẽ tự nhiên! Đó là chưa nói điều khát khao được thừa nhận sự bình đẳng trong gia đình và ngoài xã hội (ít nhất là trên phương diện luật pháp hoặc phong cách, tư tưởng). Để thấy rõ có mấy người đàn ông Việt lấy được vợ ngoại? Và để thấy rằng phụ nữ (nói chung) không có xu hướng cam phận như người ta tưởng…

   Nhu cầu hạnh phúc con người vô cùng và ước mơ không giới hạn. Trong đó, không phải là niềm tin già nua mà là thiên hướng sự đổi mới sức trẻ. Điều gì cũng có giá trị, lý lẽ riêng của chúng? Chỉ có hệ quả là người ta phải (đành) chấp nhận! Xã hội luôn sản sinh ra những cái xấu kèm theo cái tốt. Những thái độ xấu và những hành động tốt luôn luôn song hành (hoặc va chạm) để tạo ra một hiện trạng mới! Và những tư tưởng lạc hậu (văn hóa, kinh tế, chính trị) sẽ trở thành dĩ vãng… 

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Sống giả...


Sống giả…
( Suy tư…)



  Người ta đã biết đến các tác phẩm “Sống mòn”, “Đời thừa”(sống thừa) của Nam Cao nói về những nhân vật có học thức, có lý tưởng cao thượng! Nhưng rồi…cuộc sống trở nên bi kịch vì hoàn cảnh khó khăn cơm áo, gạo tiền đã làm suy nhược tinh thần lẫn thể xác khiến nhiều lúc con người biến thành kẻ lợi dụng, nhỏ nhen, ích kỷ…

   Ta cũng đã đọc được chuyện “Tắt đèn”(Ngô Tất Tố) để thấy cuộc sống tối tăm không lối thoát, mang kiếp nghèo với thân phận nhỏ nhoi, nhục nhã của người nông dân trong cơn bỉ cực…của đời chị Dậu.

   Tất cả là do đói! Và “Đói” của Thạch Lam đã cho lương tâm loài người một phần thông cảm, thức tỉnh soi xét lại vì đâu mà người vợ nhu mì đành bán cái cần “chung thủy”của mình chỉ để mua nổi một bữa thức ăn “tình yêu” cho chồng qua cơn đói lã…

   Đôi khi, khó mà phân biệt được sự cao thượng hay hèn mọn!

   Ai có cuộc đời ở trong hoàn cảnh đó mới tìm được biện chứng, chứ không phải suy diễn, ca ngợi rêu rao từ những chủ nghĩa giáo điều, đạo đức khoe khoang mơ hồ? Sự cao thượng của người đời có được đâu phải sinh ra từ những kẻ thông minh, sang trọng, lịch lãm hoặc ảo tưởng nằm trên bàn thờ của các vị thánh thần, để bày biện nghi lể nhận của bố thí… để nhờ những thí chủ “giàu có” dậy lòng trắc ẩn? Nơi có một phần dư thừa trắc ẩn của lương tâm(!)

   Những tác phẩm văn học thời bấy giờ (trước 1945) thường rất thực tế, đều mang theo cái gì đó suy tư, lặng lẽ, u hoài nhân sinh thời cuộc. Nhưng, trong đó vẫn chứa đựng bản tính nhân văn, tình người (Vợ nhặt –Kim Lân). Nhiều người xảo biện khoa giáo sau này vẫn hay phân tích vụn vặt, gán ghép giới hạn rằng: Đó là lối văn chương “phê phán xã hội”…mà không nghĩ đến giá trị cao hơn là một cuộc cách mạng văn hóa ngôn ngữ (quốc ngữ) hiện thực tư duy riêng cho người Việt…để khai phóng dân trí vượt qua những định kiến lạc hậu “luân thường đạo lý” nho giáo (Đoạn Tuyệt của Khái Hưng-Nhất Linh) trói buộc dân quyền thân phận người, lấy hủ tục mê tín dị đoan để cứu rỗi tâm linh (Phan kế Bính). Những điều phi hiện thực chính trị, giả nhân nghĩa, nợ thánh thần khiến cho dân ta mãi đắm chìm trong thù hận, vỗ về nghèo nàn, an phận đói rách, lầm than...

   Ngày nay, xã hội có chút thay đổi. Nhưng…có lẽ, không muốn chọn cao thượng hay hèn mọn? Nên người ta chọn ra cách sống giả: Lấy học thuyết tế nhị làm biện chứng trong giao thiệp, lấy hợp pháp biện minh cho chính trị, giáo dục, kinh doanh …lấy quảng cáo làm nghệ thuật mua bán lũy kế lãi, lấy tương lai để an (mị) dân, lấy truyền thống xây rào cản tiến bộ, lấy hạnh phúc tôn giáo làm mơ ước và lấy cả kiếp sau để xoa dịu linh hồn…

   Sống giả thường được hùng biện thành phương tiện đạt đến mục đích! Và đôi khi hệ quả một thói quen người ta gọi là văn hóa cho có vẻ mỹ miều, uyên bác. Đối với những người có kỹ năng “sống giả”xem đó là triết lý sống! Còn với những người thật thà thì lại nghĩ đó là trò đời léo lận…

   Thật ra, sống giả là một phần mà nhiều người cho rằng (biện bạch) văn minh hơn (không trần trụi) nhưng không có nghĩa là hạnh phúc hơn? Thật khó mà an lạc, tịnh tâm khi xung quanh mình đều có sự giả dối, ngụy tạo!  Mặc dù kịch nghệ sân khấu là một phần của tư tưởng, nhưng dẫu sao cũng không phải là nội dung đích thực…

   Từ…sống mòn, sống thừa đến sống giả  không phải là cuộc cách mạng trá hình mà xã hội mong đợi. Vì điều đó là sự lẫn quẩn, nhẫn tâm của cái nghèo đói nhân cách khiến cho xã hội hỗn mang tư tưởng đời là vô nghĩa! Người không trọng người, ta cũng chẳng trọng ta…thì lấy đâu ra lòng tin yêu để làm cội nguồn của tự do và hạnh phúc?

   Có lẽ: “Con người sinh ra không phải để hạnh phúc, mà để chiến đấu với gian nan và để được nên người…”

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014

Nỗi buồn "tôn sư trọng đạo"...



Nỗi buồn “Tôn sư trọng đạo”!
(Suy tư…)



    Có câu: Sự thật thường mất lòng người (!), còn lời nói dối lại dễ được tha thứ(?)

   Đương nhiên, khi nói ra sự thật thì phải hết sức tế nhị rồi! Nhưng, không trung thực trong giáo dục thì lòng tự trọng lấy đâu ra mà tha thứ?

   Nhiều người nói: Người Việt có tính đố kỵ nên thích thổi phồng, rình rang mọi việc!? Tôi nghĩ điều đó chỉ đúng với những kẻ tham phú quý nên bày lễ nghĩa, người thiếu thốn chữ nghĩa thích bám quyền lực…trong một hoàn cảnh xã hội còn bị nhiễu nhương văn hóa, hỗn mang pháp trị! Còn tâm hồn Việt? Thât ra, ai cũng có thể cảm nhận từ trong văn hóa nhân gian: Họ đều mơ ước một cuộc sống thanh bình với hạnh phúc thảnh thơi, bình dị…

   Mọi sự kiện và phương pháp lý luận đều có lý lẽ và hoàn cảnh đặc thù riêng của chúng! Nhưng sẽ  khác nhau về quan điểm giữa người  học đạo và người đi tìm đạo? Có lẽ, điều đơn giản là vì họ khác nhau ở chỗ đang ngủ trong niềm tin, hay thao thức cho tương lai…

   Lịch sử đã qua: Thời phong kiến…xã hội luôn lệ thuộc và bị tác động bởi quyền lực (quyền lợi) từ một tập đoàn thống trị nào đó (vua chúa, quan lại). Và, để có hệ thống chính trị…người ta ghép nối ý nghĩa của hai chữ “Quốc gia”hay “nhà nước” để kêu gọi người dân quy tụ thành những “thảo dân”nằm dưới một nền giáo dục đạo đức “luân lý”có nấc thang pháp chế cao thấp: Quân - sư - phụ (Vua, thầy rồi mới đến cha). Người “thầy” ở đây đương nhiên là những quan lại…

   Không riêng ở phương đông? Chức “Thầy” còn được dùng cho cả thầy tu ở phương tây và các vị giáo chủ ở vùng trung đông. Và, sách lược trị vì bằng lợi dụng tín đồ tôn giáo thay cho tư tưởng pháp chế “vi quân” cũng không hề khác nhau là bao…

   Riêng, học thuyết “quốc sách” trị nước, “tề gia” đến “bình thiên hạ” của Khổng Tử rất nổi tiếng và được vài nước phương đông (Nhật, Hàn) một thời súng sính cắp sách theo học. Dù ở góc khuất lý luận tiềm tàng đâu đó cũng có gật gù về giá trị dân chủ, thừa nhận “dân là gốc”, nhưng vẫn gọi là…“tiểu nhân”? Với lý lẽ có chút xíu áp đặt khiên cưỡng…vậy nên, chẳng phải vô tình ngộ nhận biến lễ giáo thành tôn giáo (nho giáo)? Để những giáo điều, luân lý đó…kéo dài mãi rồi cũng sẽ có ngày trở thành “truyền thống”cho đời sau: Tôn sư trọng đạo…

   Nhưng may thay…sự thật, trong lòng cội nguồn nhân tính vốn bình đẳng, thế gian thường có sẵn ân nghĩa và lòng bao dung lẽ phải! Nên không phải ai cũng đồng ý với hệ “tư tưởng”bảo thủ đặc quyền suy tôn giáo dục kiểu pháp chế dành riêng cho “môn đồ” như thế? Tâm tư nhân gian chỉ thường ca ngợi (khuyên nhủ) bằng những giá trị hạnh phúc có thực, gần gũi từ trong cuộc sống nhân ái: Lòng mẹ, tình yêu! Bởi, trong đó là đã đủ chứa đựng bao hàm nhiều ý nghĩa: Nguồn cội, tình cảm quê hương, bạn bè, xóm giềng …

  Phải chăng? “Tôn sư trọng đạo” chỉ là châm ngôn xuất phát từ quan hệ giáo phái: Sư phụ và môn đệ với lời thề đạo đức theo tôn chỉ hay nghiệp vận đạo và đời…chứ không phải khẩu hiệu dành riêng cho người dạy học trò (giáo viên) chữ nghĩa phổ thông như ngày nay. Vì, đối với khoa học giáo dục: Mục đích nhân văn hiện đại là hòa hợp dân sinh để kể thừa và khai phóng xã hội. Vì thế, không phải vô tình có câu “học thầy không tày học bạn”(!)

   Nếu chỉ đổ thừa cho quá khứ hoàn cảnh khó khăn kinh tế kéo dài, hoặc là do phương thức kinh tế thị trường hiện tại nhũng nhiễu…nên sự học không còn mặn mà so với “miếng cơm manh áo” là điều ngụy biện! Chẳng qua, sợ rằng…bị hụt hẫng kiến thức cao thượng nhân sinh, nên không hiểu “Trọng thầy mới được làm thầy” để rồi gây lục đục cho xã hội ưu tư “không thầy đố mày làm nên”

    Những ngữ điệu thường hào phóng lãng mạn, tạo ra chút thăng hoa khi ca ngợi: “Nghề cao quí nhất trong các nghề cao quí”, “kỹ sư tâm hồn”, “trồng người”. Đó là những lời hoa mỹ! Người ta chấp nhận những tu từ thơ ca…nhưng, không có nghĩa người ta thừa nhận những ví von phóng đại, cao ngạo đó là đặc quyền của bất cứ ngành nghề nào trong cuộc sống vốn bình đẳng, nương tựa tùy thuộc năng lực, vị trí mưu sinh và cống hiến…

   Ý nghĩa của những thành ngữ thường đơn thuần là lý giải tình cảm bằng hình tượng, vay mượn chữ nghĩa: “nhất tự vi sư bán tự vi sư” đôi khi chỉ là ý tứ của duyên với phận! Những ngọn gió “thuần phong”hát ru lòng người như thế thường có quan niệm “mỹ tục” bắt nguồn từ phong tục văn hóa tư tưởng xứ Trung Hoa xa xưa…So với hiện thực văn hóa quốc ngữ chơn chất thuần Việt phần lớn hiện nay lại là thứ ngôn ngữ lặp cập, cao siêu, bí ẩn và dị biệt?

   Giáo viên là nghề bút mực đã đưa văn chương vào đời duy nhất thường được tin tưởng và kính trọng! Vì ở đó, chỉ có giá trị thanh cao học vấn và nhân cách đã được mô phạm. Họ không nói lời bóng bẫy gió đưa, không gian tâm tư của họ là những niềm vui cùng đôi mắt trẻ thơ hồn nhiên cần ê a chia sẻ, dạy dỗ. Xã hôi yêu quí và nâng niu…vì nghiệp dĩ hạnh phúc của người thầy vốn lặng lẽ, thanh bạch tận tụy, cần mẫn ươm mầm đón đưa trẻ thơ nên người, hữu dụng! Chỉ uớc sao? Đừng để đồng tiền tiêu khiển, quan chức chỉ đạo nghề nghiệp, hoặc đến lai vãng nhuộm màu học vấn thói đời…

   Tình cảm của con người thuộc về nơi tử tế hơn là khoe khoang chốn hoa hòe hội chợ! Sự xói mòn lương tâm thường là do hình thức văn hóa kiểu cách đẩy trôi về một hướng vu vơ? Cũng như người ta dễ nhầm lẫn một cách cố tình đánh đồng khoa học duy vật thành vật chất phù phiếm là tiến bộ? Sự “tiến hóa”học thức thuộc về bước tiến khoa học chứ không phải tô son dung mạo con người, nghề nghiệp! Vì khi tâm sinh lý và bộ não khác nhau sẽ tạo ra gánh nặng nhân cách và hành vi bất thường oái ăm cho xã hội…

   Ngày nay, nhiều người hiểu rằng: Tình thầy trò thanh cao hơn là thứ ngôn từ ơn nghĩa gió bay, “làm ơn mắc oán”, khẩu hiệu, bằng khen. Vì đó…chỉ là dấu vết tao nhã tình cảm mà dòng đời tự nhiên xuôi mãi, được bắt nguồn từ trong tâm thức thông qua cả một thời niên thiếu hương hoa…Trong đó, chỉ chứa đựng kỷ niệm hồn nhiên và hoài bão tương lai trong sáng! Vì là, ở chốn bình yên nên đã có sẵn vốn liếng ân tình từ thuở có thầy và trò. Do đó! Nó không hề vay mượn ngôn ngữ kiêu sa hay hí ngôn “hiếu học” ru ngủ sự sùng bái, khiến thầy và trò phải ái ngại lương tâm, lục lọi lại giá trị,  gánh nợ kiến thức…

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Vác bút giang hồ...



Vác bút giang hồ…
(Tiếu ngạo…)


   Ngày xưa, người ta hay cưỡi ngựa, vác kiếm đi giang hồ. Nhưng, muốn hành hiệp, trợ nghĩa thì phải có kiếm thuật (quân tử Tầu) hay bắn súng giỏi (cowboy viễn Tây), nếu không là...toi đời! (hic)

   Ngày nay, trong thời đại công nghệ thông tin, đành mò mẫm cỡi con @ (Nich name), vác bàn phím (bút) đi giang hồ Internet. Vì bởi, nếu không đi qua miền tối sáng, rối ren thông tin cho dzui…sao lụm được chữ nghĩa làm kiến thức vào chơi với đời?(chậc)

   Chốn giang hồ của thông tin, hình ảnh, chữ nghĩa…cũng hải hồ phiêu bạt và liên lụy đến số phận não bộ không kém. Nếu muốn múa bút chém gió viễn vông thì phải có chút điệu nghệ, gọn gàng…không thì sẽ văng mực lem luốt tùm lum cho mình và người khác! Lúc mệt mỏi, nực nội...thì gõ bàn phím lần mò, ghé qua môn phái “gợi cảm” nghỉ ngơi cho mát…mắt! (le lưỡi)

   Đi giang hồ đường đời thì phải có bản lĩnh, dày dạn phong trần. Nhưng, muốn phiêu lưu trên mạng  internet, thì dễ thôi: Từ trẻ em mắt sáng trong veo cho đến các cụ gìa nheo mắt hấp háy vẫn “rong đời” được…

   Ở xứ sở chập chững, còm cõi phù phiếm này cũng có lắm chuyện hỗn mang, pha trộn…nên phải “Enter”cẩn thận! Đôi khi, sự ca ngợi quá mức cần thiết là chỉ để nổi như bèo phiêu du... từ“danh chính lề phải” cho đến “lề trái thủy hử”, hay tu tử “đạo đức thần thánh” cho đến ái môn “lộ hàng gợi cảm”. Ngoài ra, sự mê lộ của tin tức chữ (tối) nghĩa là do nhóm “cái bang” chống bút đi lục lọi hóng chuyện thiên hạ kêch cỡm, khoe từ cây tăm của lão giàu có, cho đến soi xét sợi tóc vàng úa của nàng “show biz”, rủ rê giải trí yêu đương, bóng đá…Thỉnh thoảng, lại gõ bàn phím (múa bút) ồn ào “giựt gân”, trần trụi, kinh hãi…để “câu view”tò mò, hay ru ngủ khối người còn ngây thơ, mộng mị…

   Đương nhiên, đây cũng là thế giới (thời kỳ) quyền lợi dành các giáo phái, chính trị, bán buôn…nên chắc cũng có nhiều bồi bút nghệch ngoạc tìm kiếm bí kíp, chiêu thức “vá áo túi cơm” nên liều mua ý thức, bán chữ nghĩa. Dù, tự ngàn xưa nhân sinh vốn kết luận rằng: Thời tiết vần vũ đời này làm gì có gió mơn man một hướng…

   Ngôn luận và thông tin trên mạng…phần lớn đều do giáo phái “chính thống”tung hoành ngang dọc và kiểm soát. Phạm “húy” cấm kỵ vùng kín đáo đặc quyền môn đệ, đảng phái cũng dễ ở tù, gác bút (?) Nhưng, so với truyện “Tiếu ngạo giang hồ”kiếm hiệp(Kim Dung) thì lý giải chuyện đời tâm lý cũng thế mà thôi? Vì, xưa nay…mặc áo quần đẹp“danh ngôn chính phái” là thường kín đáo che lấp được hình hài “ngụy quân tử”. Còn đạo đức thần thánh cũng chỉ là “câu kinh”mơ hồ của những kẻ mộng du bế tắt cõi trần, ý đồ phần lớn là muốn thế tục mông muội, ngủ quên với danh phận, áo cơm…để dễ bề thao túng đua đòi vay mượn, léo lận. Thế mới cần có hình thức hoành tráng bày biện tiêu xài, cúng bái xa hoa, vọng các…

   Giang hồ, là chuyện sông nước dòng đời tự trôi lang bạt, hồn nhiên…nó không hề dẫn dắt tư tưởng! Nhưng, ở thế giới này nó có thể tù mù mưu đồ sắp đặt, nặn ra cái “tư duy” điêu ngoa ảo tưởng cho con người vụng dại…

    Dân trí gây điên đảo, hay học vấn làm hỗn loạn tri thức? Trong truyện giang hồ hành đạo xưa nay…nếu không có người xứng đáng được giới võ lâm bầu làm minh chủ, thì thiên hạ sẽ đại loạn(!) Trong ngôn ngữ ngông cuồng, hiếu thắng thường là nguồn cơn của tật nguyền, dịch bệnh…

  Nhưng thôi…cuộc đời luôn cần hy vọng (dẫu mong manh), cần khai mở tâm tư để chứng minh sự chân thành, rộng lượng, bao dung(?) Có lẽ, cũng phải đành bước qua vũng lầy tăm tối thì mới cảm nhận được tạm ánh sáng miền bình yên! (phù)